đồng hành

Cảnh giác với cây Thương lục

 
Kinh nghiệm sử dụng các loại cây thuốc nam để tự chăm sóc sức khỏe ngay tại cộng đồng dưới dạng kinh nghiệm dân gian đã tồn tại và phát triển từ lâu đời. Đơn giản nhất là kinh nghiệm truyền miệng giữa người này sang người khác. Bên cạnh các kết quả tốt cũng xuất hiện nhiều trường hợp rủi ro đáng tiếc, thậm chí có trường hợp gây ra chết người.
 
Gần đây báo chí đưa tin “Trưa ngày 4/4, vợ chồng ông lão 75 tuổi cùng một người thân của họ (48 tuổi) ở phường Bắc Nghĩa, Tp. Đồng Hới nhập viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới trong tình trạng đau đầu, buồn nôn và co rút tay chân.
 
Người thân của những bệnh nhân này cho biết, trong vườn nhà có trồng một loại cây lạ được hơn năm nay. Thấy củ to, hình dạng giống sâm nên cả gia đình đã đào ăn thử. Sau khi ăn, 3 người thấy biểu hiện lạ trong người nên đã phải nhập viện.”
 
Qua hình ảnh kèm theo rễ, củ cây thuốc trên, đồng thời trao đổi với các chuyên gia dược liệu và các thầy thuốc Đông y tại Bình Dương, Bình Phước. Có thể nhận ra cây thuốc gây ra nhầm lẫn trên chính là cây Thương lục. Chúng tôi xin giới thiệu cách nhận biết cây Thương lục như sau:

 

Cây Thương Lục trồng trong chậu kiểng tại Thuận An

 
Thương lục còn có tên là Trưởng bất lão, Kim thất nương, tên khoa học là Phytolacca acinosa Roxb. (P. esculenta Van Houtte), là cây mới được di thực du nhập vào nước ta mấy thập kỷ gần đây.
 
Trong nước vốn có sẵn loài thương lục Phytolacca decandra L. còn gọi là Thương lục Mỹ (Phytolacca americana L.) hay dân gian còn gọi sâm voi vì cây mau lớn, sau 6 - 7 tháng cho củ to bằng cổ tay hình rất giống củ sâm (đây chính là sự nhầm lẫn gây hậu quả đáng tiếc).
 
Trong Thần Nông bản thảo xếp Thương lục vào nhóm “hạ phẩm” vì là thuốc có độc, không được dùng nhiều và lâu dài, nên ít được thầy thuốc sử dụng phổ biến.
 
Mô tả sự khác nhau của hai loại Thương lục:
 
1. Phytolacca esculenta Van Houtte
Tên đồng nghĩa: Phytolacca acinosa Roxb. Var. esculenta Mak
2. Phytolacca decandra L. họ Thương lục Phytolaccaceae
 
Cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0,4-1m. Rễ củ mập, hình trụ, có nhiều ngấn ngang. Thân hình trụ, nhẵn, hơi hóa gỗ ở gốc, màu lục hoặc màu tía, phân cành ở gần ngọn. Lá mọc so le, hình bầu dục- mũi mác, dài 10-20cm, rộng 6-8cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, gân chính nổi rõ ở mặt dưới; cuống lá dài.
 
Cụm hoa mọc đối diện với lá thành chùm, dài hơn lá, thường cong xuống, cuống có cạnh, nhẵn; hoa màu trắng pha hồng; lá bắc 3, bao hoa có 5 phiến bằng nhau, nhọn đầu; nhị 8-10; bầu có 8-10 noãn.
 
Quả mọng hình cầu dẹt, có 10 múi gồ lên, khi chín màu tím đen; hạt gần hình thận, màu đen bóng.
 
Mùa hoa tháng 5-7; mùa quả tháng 8-10.
 
Cây thảo nhẵn, khỏe, cao 2-3m; thân và cành thường có màu đo đỏ. Lá mọc so le, đơn, hình trái xoan ngược, dài 12-17cm, rộng 5-7cm, mép hơi lượn sóng, không có lá kèm; cuống lá rất ngắn; gân bên nối từng đôi một thành cung đến gần mép lá. Hoa trắng chuyển sang hồng, nhiều, xếp thành chùm đơn hình trụ dài 8-16cm, trên những cuống dài ở nách lá. Hoa có 5 lá dài, không có cánh hoa, 10 nhị đính trên một phần hoa hình dạng vòng, 10 lá noãn mọc vòng dính nhau. Quả nạc gần hình cầu với một chỗ lõm ở giữa, đỏ rồi tím đen khi chín, có 10 cạnh với 10 ô chứa mỗi ô 1 hạt .
 
Mọc rãi rác trên các ruộng, bãi hoang, nương rẫy.
 
Ra hoa tháng 6-10 cho đến tháng 2 năm sau.
 
Ở nước ta phần lớn cây trồng làm cảnh.
 


Toàn cây Thương Lục trồng tại Tân Uyên
 
Cây Thương lục có chứa chất phytolaccatoxin gây co giật và kích thích tuần hoàn.
 
Rễ Thương lục có chất độc là phytolaccatoxin, các saponin triterpen esculentosid  A,B,C,D,E,F,G,H,I,K,L,M,N,O,P,Q.
 
Hạt chứa chất màu vàng: Thành phần chất độc trong hạt là phytolaccatoxin tương tự như picrotoxin (theo Wealth of India vol VIII; 1969,p.42).
 
Tính vị, công năng:
 
Vị đắng, tính hàn, có độc vào 2 kinh tỳ và bàng quang, có tác dụng thông đại tiểu tiện, tả thủy, tiêu thũng, tán kết.
 
Công dụng:
 
Chữa phù thủng, trương mãn, cước khí, mụn nhọt, đầu đinh, vàng da.
 
Liều ngày 4,5- 10g, dưới dạng nước sắc hoặc thuốc bột. Dùng ngoài đắp tại chỗ.
 
Độc tính: trên người Thương lục có độc, uống quá liều gây ngộ độc, thường xuất hiện sau khi dùng thuốc 20 phút đến 3 giờ. Nhẹ thì thân nhiệt tăng, tim đập nhanh, thở mạnh, nôn mữa, đau bụng, tinh thần hoảng hốt, nói lảm nhảm. Liều lớn gây liệt thần kinh, hôn mê, thở khó khăn huyết áp hạ, tim ngừng đập gây tử vong. Biện pháp giải độc là chữa triệu chứng dùng thuốc trợ sức. Trong dân gian có kinh nghiệm dùng cam thảo sống, đậu xanh giã giập pha với nước sôi hoặc sắc nước uống.
 
Trần Đình Hợp
 
(Tài liệu tham khảo:- Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam-NXB khoa học và kỹ thuật- 2004; Từ điển cây thuốc Việt Nam-NXB Y học)

 

các bài viết liên quan


  Nhu Châm là gì ?   -  

địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 365.155

Đang online: 22