đề tài - dự án

Đề tài ứng dụng Laser bán dẫn công suất thấp cắt cơn đói ma túy – Hỗ trợ cai nghiện


Tên đề tài: Ứng dụng thiết bị Laser bán dẫn công suất thấp cắt cơn đói ma túy – Hỗ trợ cai nghiện

Thời gian thực hiện: từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2004.

Địa điểm: tỉnh Bình Phước

Đơn vị đăng ký: Hội Laser y học tỉnh Bình Dương

1. Giới thiệu tổng quát

Phương pháp cắt cơn đói ma túy bằng thiết bị Laser bán dẩn công suất thấp đã được nghiên cứu ứng dụng từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2004 tại tỉnh Bình phước, bằng thiết bị do các nhà vật lý Việt nam sản xuất, áp dụng theo nguyên lý điều trị của Y học cổ truyền có kết hợp tây y (cận lâm sàng, lâm sàng). Đề tài nghiệm thu ngày 23/10/2003 và được UBND tỉnh Bình phước quyết định cho tiếp tục nghiên cứu giai đoạn hai nhằm hổ trợ điều trị các bệnh kèm theo sau cắt cơn do lạm dụng ma túy, hổ trợ nâng sức bệnh nhân góp phần nâng cao hiệu quả cai nghiện (Quyết định số 2506/ QĐ-UB ngày 28/9/2004).

Việc ứng dụng thiết bị Laser bán dẫn công suất thấp trong hổ trợ bệnh nhân cai nghiện ma túy đã góp phần bảo vệ an toàn cho thầy thuốc và bệnh nhân đối với các bệnh nguy hiểm lây truyền qua đường máu như: Viêm gan siêu vi B, HIV/AIDS . . .

2. Mô tả tóm tắt nội dung

2.1. Sử dụng thiết bị Laser bán dẫn công suất thấp do trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ chí Minh sản xuất, loại chuyên dùng cho điều trị cắt cơn đói ma túy. Thiết bị gồm:

- 10 kênh thể châm, mỗi kênh sử dụng 1 tia Laser bước sóng 940 nanômét (nm).

- 02 đầu tổ hợp châm ( YHCT: mai hoa châm ), mỗi đầu gồm 5 tia Laser, sử dụng đồng thời 02 bước sóng 780 nm và 940 nm.

Các đầu Laser được định vị  trên các vị trí huyệt của Đông y bằng băng dính , đầu tổ hợp châm được chiếu trực tiếp trên các vùng theo đồ hình đầu châm và các huyệt vùng đầu mặt.

2.2. Bệnh nhân nghiện ma túy loại Heroin, Á phiện tự nguyện tham gia điều trị tại hai địa điểm gồm: trung tâm Y tế huyện Lộc ninh, trung tâm điều trị bệnh và giáo dục lao động tỉnh Bình phước.

Bệnh nhân được khám sức khỏe tổng quát, có kết luận không mắc bệnh nhiễm trùng cấp, đủ sức khỏe tham gia điều trị. Bệnh nhân được kiểm tra nước tiểu theo dõi ma túy trong nước tiểu bằng phương pháp sắc ký nhiễm dịch (que thử do công ty Pharmatech sản xuất theo tiêu chuẩn NIDA của Hoa kỳ). Được xác định có từ 3 đến 6 dấu hiệu chỉ điểm nghiện ma túy theo IDC 10 (hoặc đã qua điều trị cắt cơn bằng phương pháp khác).

Trong thời gian điều trị được theo dõi và đánh gia lâm sàng theo bảng điểm dựa trên tiêu chuẩn Hội chứng cai của quốc tế,có tham khảo thêm các tiêu chuẩn của viện Y  dược học dân tộc thành phố Hồ chí minh. Tính điểm đầu vào, đầu ra, so sánh điểm chênh lệch trước và sau điều trị (theo phương pháp tự đối chiếu ), được phân loại bệnh, theo từng thể của Đông y.

Bệnh nhân được kết luận ra khỏi hội chứng cai, phục hồi sức khỏe khi các biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai không còn, biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh khác không còn, kiểm tra nước tiểu không còn chất ma túy.

2.3. Mỗi ngày châm bằng Laser từ  3 đến 4 lần, châm đón cơn trước  từ 20 đến 30 phút, châm nâng sức khoảng cách giữa 2 cơn, với các huyệt kinh điển của Đông y bao gồm:

Hệ thống huyệt Du- Mộ (vùng bụng và vùng lưng) hệ thống huyệt Ngũ du ( vùng tứ chi ) hệ thống huyệt vùng đầu mặt (kết hợp đồ hình đầu châm).

Mỗi bệnh nhân sẽ được gia giảm huyệt theo triệu chứng điển hình được phân thể theo Đông y.

Kết hợp ăn uống, bồi bổ cơ thể, vệ sinh cá nhân, động viên tinh thần, và quản lý chống sử dụng ma túy. Bệnh nhân được uống thuốc Đông dược theo các bài thuốc kinh điển như; Long đởm tả can thang, Bổ trung ích khí, Lục vị, Bát vị, bồi bổ khí huyết. . .

2.4. Đã tiếp nhận điều trị 115 bệnh nhân, trong đó bệnh  nhn nam 113  người, nữ 02 người.

2.4.1. Thống kê phân loại theo độ tuổi

 

Năm sinh Số lượng Tỷ lệ
1940 đến 1949 01 0,87%
1950 đến 1959 02 1,74%
1960 đến 1969 11 9,57%
1970 đến 1979 42 36,52%
1980 đến 1989 59 51,30%


Từ bảng 1 cho thấy số bệnh nhân trong diện điều trị đa số là trẻ.

2.4.2. Thống kê phân loại theo mức độ

 

Độ cơn nghiện ma túy Mức độ cơn nghiện ma túy Số lượng bệnh nhân Tỷ lệ
I Nhẹ 07 6,09%
II Trung bình 33 28,70%
III Nặng 38 33,04%
IV Rất nặng 37 32,17%
 

Số bệnh nhân ở mức độ nặng và rất nặng là 75 người, chiếm tỷ lệ cao: 65,21%.

2.4.3. Thời gian ra khỏi cơn nghiện ma túy

 

Ngày điều trị Số lượng người Tỷ lệ
Ngày thứ tư 50 43,48%
Ngày thứ năm 54 46,96%
Ngày thứ sáu 11 9,56%

Vậy sau ngày thứ tư và thứ năm, số bệnh nhân nghiện ra khỏi hội chứng cơn nghiện ma túy là 104 chiếm 90,44%.

Theo thống kê ở bảng 2, trong 115 bệnh nhân nghiện đã có 75 người nghiện ở mức độ nặng và rất nặng. Sau ngày điều trị thứ tư và thứ năm đã có 104 bệnh nhân ra khỏi hội chứng cơn nghiện ma túy chiếm 90,44%. Điều này nói lên hiệu quả tốt của việc điều trị cắt cơn nghiện ma túy bằng laser bán dẫn công suất thấp.

2.4.4. Tổng hợp điểm chấm các triệu chứng cơn nghiện ma túy, khi bắt đầu và kết thúc điều trị bằng laser bán dẫn công suất thấp cho bệnh nhân nghiện

Tìm yNC = t (Test Student) theo công thức:



 

Tra bảng t (Student Fisher), ta có t­1 = 2.576 ứng với ngẫu suất p = 0.01; so sánh t = 4.071, suy ra t>t1. Như vậy đối với t = 4.071 ứng với ngẫu nhiên p<0.01.

Kết quả trên đây cho chúng ta thấy: Sự khác biệt giữa đầu vào và đầu ra rất lớn với xác suất lớn hơn 99%. Điều này cho thấy cắt cơn nghiện ma túy bằng laser bán dẫn công suất thấp có ý nghĩa mạnh trong điều trị.

2.4.5. Kết quả xét nghiệm hàm lượng triglycerid trong máu và điểm đánh giá sự thay đổi hàm lượng ấy trước và sau khi kết thúc điều trị bằng laser bán dẫn công cho bệnh nhân nghiện ma túy. (Không có ý nghĩa thống kê)

2.4.6. Kết quả xét nghiệm hàm lượng cholesterol trong máu và điểm đánh giá sự thay đổi hàm lượng ấy trước và sau khi kết thúc điều trị bằng laser bán dẫn cho bệnh nhân nghiện ma túy.

Độ lệch thu gọn y:

 



Tra bản thu gọn y (theo Fisher và yates, bảng số 1, phụ lục 3) áp dụng cho mẫu nghiên cứu n > 30, chúng tôi thấy: khi y = 2.576 thì ngẫu xuất p = 0.01, tức là độ tin cậy chính xác đến 99%.

Lô nghiên cứu của chúng tôi có ync = 6.90.

Như vậy ync = 6.965 > 2.576 ứng với mẫu xuất p < 0.01. Điều này có ý nghĩa là phương pháp điều trị của chúng tôi có kết quả tốt với độ tin cậy lớn hơn 99%

2.4.7. Kết quả điều trị phục hồi hàm lượng men gan S.G.O.T (AST) của bệnh nhân nghiện bằng laser bán dẫn công suất thấp.

Độ lệch thu gọn y:




Tra bảng thu gọn y (theo Fisher và Yates, bảng số 1, phụ lục 3) áp dụng cho mẫu nghiên cứu n>30, chúng tôi thấy: Khi y = 2.576 thì ngẫu xuất p = 0.01, tức là độ tin cậy chính xác dến 99%.

Lô nghiên cứu của chúng tôi có ync = 3.069.

Như vậy ync = 3.069 > 2.576 ứng với ngẫu xuất p < 0.01. Điều này có ý nghĩa là phương pháp điều trị của chúng tôi có kết quả tốt với độ tin cậy lớn hơn 99%.

2.4.8. Kết quả xét nghiệm hàm lượng men gan S.G.O.T (AST) trong máu và điểm đánh giá sự thay đổi hàm lượng ấy trước và sau khi kết thúc diều trị bằng laser bán dẫn cho bệnh nhân.

Độ lệch thu gọn y:




Tra bảng thu gọn y (theo Fisher và Yates , bảng số 1, phụ lục 3) áp dụng cho mẫu nghiên cứu n > 30 , chúng tôi thấy: Khi y = 2.576 thì ngẫu xuất p = 0.01, tức là độ tin cậy chính xác dến 99%.

Lô nghiên cứu của chúng tôi có ync = 3.67.

Như vậy ync = 3.754 > 2.576 ứng với ngẫu xuất p < 0.01. Điều này có ý nghĩa là phương pháp điều trị của chúng tôi có kết quả tốt với độ tin cậy lớn hơn 99%.

2.4.9. Kết quả xét nghiệm hàm lượng men gan S.G.P.T (ALT) trong máu và điểm đánh giá sự thay đổi hàm lượng ấy trước và sau khi kết thúc diều trị bằng laser bán dẫn cho bệnh nhân nghiện ma túy.

Độ lệch thu gọn y:




Tra bảng thu gọn y (theo Fisher và Yates , bảng số 1, phụ lục 3) áp dụng cho mẫu nghiên cứu n>30, chúng tôi thấy: Khi y = 2.576 thì ngẫu xuất p = 0.01, tức là độ tin cậy chính xác dến 99%.

Lô nghiên cứu của chúng tôi có ync = 5.181.

Như vậy ync = 5.181 > 2.576 ứng với ngẫu xuất p<0.01. Điều này có ý nghĩa là phương pháp điều trị của chúng tôi có kết quả tốt với độ tin cậy lớn hơn 99%.

2.4.10. Kết quả xét nghiệm hàm lượng calcium trong máu và điểm đánh giá sự thay đổi hàm lượng ấy trước và sau khi kết thúc điều trị bằng laser bán dẫn cho bệnh nhân nghiện ma túy.

2.4.11. Nhóm điều trị bệnh sau cắt cơn: Phân loại bệnh, phân thể theo Đông y:

Tỵ Uyên (Viêm xoang): 25 người.

Yêu thống (Đau lưng): 17 người.

Thụy miêng (Mất ngủ): 16 người.

Tỳ vị hư hàn (Rối loạn tiêu hóa): 22 người.

Thận hư (Di tinh): 12 người.

Can âm hư (Suy giãm chức năng gan): 23 người.

3. Nhận xét:

3.1. Phương pháp điều trị cắt cơn đói ma túy và điều trị hổ trợ cai nghiện bằng thiết bị Laser bán dẫn công suất thấp là một phương pháp mới, đem lai một số kết quả đáng quan tâm. Kết quả điều trị đã cải thiện tốt chức năng gan, thận, tim mạch thông qua kết quả xét nghiệm Triglycerid, Choleseron, man gan SGOT, SGPT, Calcium. Giải quyết tốt các bệnh và chứng kèm theo như: Viêm xoang, đau lưng, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa, di tinh...

3.2. Phương pháp này đã kế thừa các thành tựu của Đông y về hệ thống các kinh huyệt. Kế thừa các thành công của các tác giả trước về châm cứu hỗ trợ cai nghiện ma túy. Có tính kết hợp cao giữa những thành tựu của Vật lý, Y sinh học, Tây y, Đông y. Giải quyết được mối lo của cả thầy thuốc và bệnh nhân về nguy cơ lây nhiễm các bệnh nguy hiểm qua đường máu.

4. Những thuận lợi

4.1. Thiết bị sản xuất trong nước nên giá thành thấp, dễ bảo trì sửa chữa.Trình độ chuyên môn yêu cầu từ trung cấp Y tế trở lên lên, đào tạo kỹ thuật 3 tháng nên chi phí thấp.Thao tác đơn giản, thiết bị gọn nhẹ dễ di chuyển phù hợp cho các cơ sở điều trị tuyến huyện và các trung tâm cai nghiện. Hiệu quả kinh tế cao.

Với kết quả điều trị trên việc ứng dụng thiết bị Laser BDCST tại các Trung tâm chữa bệnh và giáo dục lao động, tại các bệnh viện tuyến huyện là phù hợp. Có thể tổ chức đào tạo cung cấp thiết bị và tổ chức điều trị tại cộng đồng.

4.2. Góp phần giải quyết tệ nạn ma túy của xã hội. Giảm nguy cơ lây nhiễm cho người điều trị các bệnh lây qua đường máu, đặc biệt là HIV/AIDS (mà đối tượng nghiện thường có)

 
Trần Đình Hợp
 
 

các bài viết liên quan


địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 365.210

Đang online: 72