Trang chủ

Hải Thượng Lãn Ông - Một nhân cách sáng chói trong lịch sử y học Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới


Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một đại danh y tài năng xuất chúng hết lòng thương yêu người bệnh, một nhân cách cao thượng, một nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ XVIII và là một danh nhân văn hóa thế giới.

Ông tên thật là Lê Hữu Trác. Sinh ngày 11 tháng 12 năm Canh Tý (Tức ngày 11 tháng 12 năm 1720). Nguyên quán thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (nay là xã Liêu Xá, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên) Hiệu Hải Thượng là ông ghép từ chữ “Hải” của tên tỉnh Hải Dương và chữ “Thượng” là tên của phủ Thượng Hồng, Lãn Ông có nghĩa là ông lười, tuy nhiên ông chỉ lười công danh, lười đua chen ở chốn quan trường còn sự nghiệp y học thì ông rất chăm chỉ nghiên cứu.

Ông là con thứ 7 trong gia đình, cha là Lê Hữu Mưu, mẹ là bà Bùi Thị Thường.  Xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Ông nội Lê Hữu Danh đậu nhị giáp tiến sĩ làm quan đến chức thượng thư dưới triều vua Lê Dụ Tông; anh trai là Lê Hữu Kiểm đậu tam giáp tiến sĩ.

 


Tượng Hải Thượng Lãn Ông tại Hoa viên nghĩa trang Chánh Phú Hòa - tỉnh Bình Dương


Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động vì nạn tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến dưới thời Vua Lê - Chúa Trịnh. Ông thấu hiểu nỗi cơ hàn của người dân lao động nghèo khổ trong cảnh giặc dã, đói rét bệnh tật. Với chí khí của “trai thời loạn” Ông cũng muốn bứt mình ra khỏi “chốn thư song” để “hẹn hò bay nhảy, giao du khắp chốn để tìm bạn đồng tâm” Ông đã từng học binh thư, luyện võ, đăng lính. Thuộc dòng dõi trâm anh nên ông được cử làm tướng cầm quân đánh giặc” Mưu tính việc quân cơ tới đâu thắng tới đó” lập được nhiều chiến công. Thống soái của Chúa Trịnh nể tài ông, bao phen tiến cử, nhưng chán ghét cảnh binh đao, ông tìm mọi cách để từ chối và nhân lúc người anh mất, ông lấy cớ” Trên thì mẹ già đã bảy tuần, dưới gối còn vài ba cháu côi cút” bèn dứt khoát cởi tên cởi giáp” trở về quê nuôi mẹ dạy cháu và học nghề thuốc. Lúc này ông đã ngoài 30 tuổi. Trong khi các nhà nho trong đời chỉ dùi mài kinh sử để làm bước thang danh vọng thì đối với ông” Trường đời danh lợi đã gửi cho nước trôi mây nổi từ lâu. Quay về Hương Sơn làm nhà dưới rừng quyết chí học tập nghề y” Rồi ông được thầy thuốc Trần Độc (làng Trung Cần, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ   An) chữa bệnh và dạy cho nghề thuốc.

Vốn sẵn có sự uyên thâm về thiên văn địa lý nhân sự và tài “Nhâm cầm độn toán” trong pháp thuật Âm – Dương nên ông học thuốc rất nhanh. Ông luôn tâm niệm “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên lo tính mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ việc cứu người làm nhiệm vụ của mình không mưu lợi kể công” Và suốt quãng đời 40 năm còn lại ông phấn đấu không mệt mỏi để thực hiện ước vọng cao cả của mình.

Nói đến Hải Thượng Lãn Ông trước hết là nói đến y đức. Như chúng ta biết từ sau Cách mạng Pháp năm 1789, một trong những việc làm đầu tiên của trí thức tiến bộ là năm 1792, phục hồi chủ nghĩa nhân văn Hippocrate. Họ bắt buộc sinh viên Đại học y khoa ra ngành nghề phải giơ tay trước mặt các thầy, đọc lên “lời thề Hippocrate” (Serment d’Hippocrate), hứa sẽ trong sạch, tuân theo suốt đời, bằng không sẽ đáng cho đồng nghiệp khinh bỉ, người đời nguyền rủa. Ai ai cũng biết là từ ấy đến nay, lời thề đó được lấy làm cơ sở cho y đức mà bác sĩ phải thuộc lòng. Một tạp chí y khoa Pháp Concours Médical, khi nghiên cứu những điểm của Hải Thượng Lãn Ông từng nêu lên trong “Y huấn cách ngôn”, đã khẳng định ở “Y huấn” ngoài những điểm giống như “Lời thề Hippocrate”, còn có phần đầy đủ hơn để đi sâu vào lòng người.

Khái niệm y đức của Hải Thượng Lãn Ông thật giản dị: "Đã hiến thân cho nghề thuốc thì phải biết quên mình để dồn hết tâm lực vào trước thuật, trước là cứu người, sau là đúc kết để dựng nên ngọn cờ đỏ thắm giữa y trường". Ngay từ ngày ấy ông đã rất "hiện đại", nói như ngôn ngữ ngày nay là chữa bệnh và nghiên cứu khoa học!. Rộng hơn, ông phân tích mối quan hệ thầy thuốc – người bệnh "Thầy thuốc là người có nhiệm vụ bảo vệ sinh mệnh người ta. Lẽ sống chết, điều phúc họa đều ở trong tay mình xoay chuyển, lẽ nào người có trí tuệ không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà dám theo đòi bắt chước học nghề y".

Trong mọi nghề khác, học là thành tài song trong ngành y, sự học chỉ là một phần và điều làm nên tên tuổi, tài năng là tự tu dưỡng với 8 chữ răn mình: Nhân - Minh - Đức - Trí - Thành - Lượng - Khiêm - Cần (tức là lòng yêu thương, sự sáng suốt, đức độ lòng tốt thiện, hiểu biết, thành thực rộng lượng, khiêm tốn, cần cù), đồng thời ông cũng đề ra 8 tội cần phải tránh: một là “lười biếng”, hai là “ tham”, ba là “bất nhân” bốn là “bủn xỉn”, năm là “lừa dối”, sáu là “hẹp hòi”, bảy là “thất đức”, tám là “dốt nát” . Y học mang trong nó những thiên chức cao cả nhưng y học cũng là một nghề và người hành nghề thì cũng là những con người cụ thể. Vì thế, từ thực tế, ông kịch liệt phê phán những người lợi dụng ngành y để mưu lợi "hoặc bắt bí người ta trong đêm mưa gió khó khăn... bệnh dễ thì kêu là bệnh khó, bệnh khó thì dọa là bệnh chết, dối mình, dối người để mưu cầu lợi cho mình. “Đối với kẻ giàu sang thì sốt sắng để mong được lợi, đối với người nghèo khó thì lạnh nhạt, thờ ơ..." Tấm lòng ngay thẳng, chí khí thanh cao không luồn cúi công danh phú quý, nịnh hót kẻ giàu sang luôn luôn được coi trọng. “Ngay cả khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi chớ có mưu cầu quà cáp, vì nhận quà của người ta thường sinh ra nể nang huống hồ đối với kẻ giàu sang tính khí thất thường, mình cầu cạnh dễ bị khinh rẻ”. Trong quan hệ với phụ nữ, Hải Thượng rất nghiêm túc, tế nhị tôn trọng và tràn lòng nhân ái. Điều khuyên thứ ba của Y huấn là: “Đối với đàn bà, con gái, goá phụ, ni cô, phải có người nhà đi theo bên cạnh mới bước vào buồng mà khám bệnh; để tránh mọi sự nghi ngờ, dù cho là con hát, gái điếm cũng vậy, phải đứng đắn xem họ như người tử tế, chớ nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính”.

Con người thầy thuốc là vậy mà con người xã hội trong ông cũng là tấm gương lớn về nhân cách. Hải Thượng Lãn Ông là hiện thân của tấm lòng cương trực, chí khí thanh cao, không màng công danh phú quý, không nịnh hót kẻ giàu sang. Khi ông 62 tuổi, vào năm Cảnh Hưng 43 (1782), ông nhận được lệnh chúa Trịnh triệu về kinh xem mạch kê đơn cho Thế tử Trịnh Cán. Việc trên đòi đâu dám chống và từ quê mẹ, ông thượng kinh. Chúa Trịnh Sâm gặp ông, tiếp một buổi khen "hiểu sâu y lý", ban thưởng cho ông 20 suất lính hầu và bổng lộc ngang với chức quan Kiểm soát bộ hộ để giữ ông lại. Nhưng ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài. Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn Ông, không chịu chữa theo đơn của ông nên Thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi. Thế nhưng với dân, với đồng nghiệp, với học trò, Hải Thượng Lãn Ông lại là một con người khác. Ông là một tấm gương mẫu mực cho thuật xử thế: "Khi gặp người cùng nghề cần khiêm tốn, hòa nhã, cẩn thận, chớ nên coi rẻ khinh thường, đối với người cao tuổi thì nên cung kính; đối với người có học thì nên tôn thờ như bậc thầy; đối với người cao ngạo thì nên nhún nhường; đối với người non nớt thì nên dìu dắt; giữ lòng như vậy là điều phúc lớn".

Trong lịch sử y học Việt Nam, ông là người đặt nền móng xây dựng y thuật với cuốn Y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển đề cập từ nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, thương khoa, truyền nhiễm, cấp cứu đến y đức, vệ sinh phòng bệnh, phương pháp nuôi dưỡng, thậm chí cả chế biến các món ăn dưỡng bệnh. Có thể nói Y tông tâm lĩnh là tinh hoa của y học nhân loại và y dược cổ truyền Việt Nam. Để có được di sản cụ thể này, từ việc kê đơn bốc thuốc, thăm khám bệnh hàng ngày, ông đặc biệt chăm chỉ ghi chép để tổng kết, đối chiếu, so sánh và từ đó tổng kết thành bài học lớn. Đặc biệt ông đã chép một quyển “Âm án”, là những sai lầm thất bại trong thời gian hành nghề y để cho đời sau thấy đó mà tránh. Ông nói “Nghề thuốc là nhân thuật, thầy thuốc phải lấy việc giúp người là việc hay. Cứu được một mạng thì hoa chân múa tay để biểu dương cho người biết; lỡ có thất bại thì lại giấu im đi, ít có người không dấu cái điều xấu của mình mà dám đem sự thực nói với người khác. Riêng tôi dám nói là thoát khỏi cái thói đó chăng”. Y thuật của ông có giá trị lâu dài bởi ông chịu nghe đồng nghiệp, kể cả học trò và tiếp thu kinh nghiệm của người xưa một cách có chọn lọc, linh hoạt, sáng tạo, không hề rập khuôn máy móc. Từ đó ông có quan điểm về nhận định bệnh tật và phương pháp điều trị sáng tạo phù hợp với đặc điểm phong thổ, khí hậu và đặc điểm của con người Việt Nam.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại. Tuy nhiên, nhà văn cũng như thầy thuốc, đều thuộc khái niệm “nghề lao động trí óc tự do”, làm kỹ sư cho tâm hồn và kỹ sư cho thân thể, nên chắc có nhiều điểm tương đồng về đạo đức hành nghề.  Năm 1783, ông viết xong tập Thượng kinh ký sự bằng chữ Hán tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ Chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa - những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho Thế tử Trịnh Cán và Chúa Trịnh Sâm. Tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá gồm vỏn vẹn 29 bài thơ, hầu hết là thơ 8 câu. Thơ Hải Thượng toàn thuộc loại “tức cảnh sinh tình”, phảng phất mùi đường thi. Nhưng không phải với giọng chán đời, cô đơn, mà là lời lẽ của một người nhập thế, lo cho đời, cho người, tìm thú vui trong hành động . Tiếng thơ trung thực từ cõi lòng là Tình, nhưng cũng là quan niệm riêng về cuộc sống, là nhân sinh quan, dù là người thời xưa hay thi sĩ thời nay. Xin đơn cử vài ví dụ:

Thi sĩ Trương Kế đời Đường, trong bài “Phong Kiều dạ bạc” cảm thấy vô cùng buồn bã cô đơn khi nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn trong cảnh “Trăng tà, sương toả, quạ kêu”; và thở than “Giang phong ngư hoả, đối sầu miên!” Nhưng Hải Thượng Lãn Ông thì khác. Trong bài “Nhàn hứng”, trước cảnh “y gia tựa thiền gia”, nhắn lại cho đời sau khi nghe tiếng chuông chùa:

Bất thị chung thanh thôi vạn niệm
Thanh Tâm dưỡng chính khả khu tà

Tạm dịch:

Việc chi mà phải nện chày?
Lòng thanh niềm tục là tiêu lòng tà

Tiếng thơ trung thực từ cõi lòng là Tình, nhưng cũng là quan niệm riêng về cuộc sống, là nhân sinh quan, dù là người thời xưa hay thi sĩ thời nay. Xin được trích dẫn vài câu trích trong bài thơ “Cảm hứng” của bậc thầy thuốc tài ba ấy:

Khuy vọng Hiên Kỳ trấp tải dư
Hàn ôn khẳng phóng án đầu thư
Công danh đại bệnh thâm nan liệu
Đạo đức y ngô kiện khởi cư.

Tạm dịch là

Học y mấy chục năm trời
Đông qua hạ lại chẳng rời sách hay
Công danh là bệnh khó thay
Giữ mình đạo đức ngày ngày khoẻ vui.

Nhờ đâu mà Hải Thượng, sống vào một thời loạn lạc mà lòng vẫn luôn luôn thanh thản để “Ngày ngày xem bệnh vừa xong, đêm đêm tựa bóng trăng trong gảy đàn”? (Bài thơ “Sơn ca dật hứng”). Cụ đã mách bảo cho chúng ta trong hai câu thơ cuối cùng của tập Y lý thâu nhàn (Bài Đề Phúc Sơn Tự):    

Xả ngã tư nhân ngoại
Phù vân tổng thị nhàn

Tạm dịch

Hết mình chữa trị cho người ta
Ngoài ra tất cả đều là mây trôi!

Tập Thượng kinh ký sự lưu lại một chuyện cảm động về tình yêu. Hải Thượng thuật: Thuở nhỏ ta cầu thân với con gái quan Tham Chính ty Sơn Nam, ở xã Huệ Cầu, đã nạp lễ vấn danh và lễ hỏi. Nhưng rồi sau đó, do thời cuộc đẩy đưa, cản trở, ta phải hồi cư về Hương Sơn lập nghiệp, cưới vợ. Mấy năm sau, nghe nói vị quan đã từ trần và người con gái ta quen có một công tử đến cầu hôn, nạp đủ sính lễ. Thế rồi, lần này trở ra Thăng Long, chữa bệnh cho chúa Trịnh, có hai ni cô già đến xin gặp khuyến hoá chút tiền về đúc chuông chùa Huệ Cầu. Thì ra một trong hai sư nữ đó là người yêu xưa của công tử nhà họ Lê. Sau khi cha tạ thế, ông anh cô ép gả cho một sinh đồ trong làng, nhưng cô không thuận, cắt tóc đi tu đã gần 40 năm rồi.

Nghĩ làm sao bây chừ? Trước mắt đã mờ lại còn đẫm lệ của cụ lang y già, nhưng nhìn ra người yêu cũ vẫn còn đẹp như xưa. Nỗi lòng của Hải Thượng gói ghém trong mấy câu thơ như sau:

Mình đã hại người, chẳng hiểu ra!
Nhìn nhau càng thấy bao xót ra,
Tuy cười tình bạn mà rơi lệ,
Hai mắt xuân tàn vẫn thấy hoa!
Cuộc sống anh em xin kết nghĩa,
Kiếp sau mong ước được chung nhà.
Ta không phụ bạc mà thành phụ
Ai biết làm sao xin giúp ta!

Hải Thượng mời ni cô Huệ Cầu đi vào Châu Hoan tu, nơi gia đình cụ có sẵn một cái am, để cụ được chăm sóc, lo cho cái ăn cái mặc hầu báo đáp sự cao tiết của người yêu xưa và chuộc lại lỗi mình.

Bà sư già từ chối: “Không đi được, vì không thể lo cho mình mà bỏ lại Huệ Cầu, mồ mả tổ tiên không ai lo. Nếu quan nhân còn nghĩ đến tôi, nghe nói Hoan Châu có nhiều gỗ tốt và rẻ, xin về nhờ mua giúp một cỗ quan tài để dưỡng già trong những năm còn lại ở chùa”. Về sau, khi trở về Hà Tĩnh, Hải Thượng đã tìm mua được gỗ quý gởi ra tặng và luôn luôn viết thơ thăm hỏi, tặng biếu thuốc men.

Cả cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là cả một tấm gương sáng chói về tinh thần trách nhiệm cao cả trong nghề nghiệp, lòng nhẫn nại đức hy sinh và lòng thương yêu người bệnh vô bờ bến. Đương thời Chúa Trịnh ban ân tứ cùng dụ rằng “Lê Hữu Trác là một người siêu thoát trên tất cả mọi điều tục lụy ta cũng không muốn làm phật ý người”. Người đời sau suy tôn ông bằng danh hiệu cao quý “ Đại Y Tôn Việt Nam”. Ông thật xứng đáng là người đã “ dựng ngọn cờ đỏ thắm” trong nền Y học nước nhà.

Ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi (1791), tại Bầu Thượng (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), “ngôi sao sáng trên bầu trời y học” khuất bóng, thọ 71 tuổi nhưng gương sáng của ông còn mãi vằng vặc giữa trời...

Nhân ngày lễ giỗ lần thứ 226 của Ông cũng là dịp để những người thầy thuốc với sứ mệnh cao cả là giữ gìn và phát triển nền y học cổ truyền, tiên phong trong việc “dùng thuốc Nam chữa bệnh cho người nước Nam” như mong muốn của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Đội ngũ, y bác sỹ tỉnh nhà tiếp tục tập trung kế thừa và phát huy hơn nữa vốn y học cổ truyền hàng nghìn năm của dân tộc trong trị bệnh, cứu người. Những người thầy thuốc y học cổ truyền cần kết hợp chặt chẽ y học cổ truyền và y học hiện đại trong khám và chữa bệnh cho người bệnh. Cùng với đó cần thường xuyên học tập và rèn luyện về y đức, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngày càng xứng đáng với niềm tin của người bệnh.

 

BS QUÁCH TRUNG NGUYÊN

các bài viết liên quan


  Nhu Châm là gì ?   -  

địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 428.102

Đang online: 91