Trang chủ

Nhu Châm là gì ?


1. Danh pháp của Nhu Châm:

Bất cứ liệu pháp điều trị nào, cũng đều có "danh pháp"; phuơng pháp ngoại khoa (medical operation) đưa mẩu chỉ tự tiêu (fils resorbables) vào một vị trí sinh học nhạy cảm gọi là "huyệt châm cứu" (point acupunctural), thì đã đuợc các thầy thuốc đông, tây y tỉnh Bình Dương thập niên 70 thế kỷ 20, gọi tên danh pháp CATGUTO-PUNCTURE (tên Việt là Nhu Châm).

Lý do: Chỉ tự tiêu catgut trong phẫu thuật ngoại khoa có tính chất Mềm (# tên hán-nôm là "nhu"), lại được cài nằm ổn định nơi huyệt vị châm cứu/trong thời gian ngắn, rồi tan đi trong linh khu (# cơ thể nguời kỳ diệu), nên gọi là CHÂM (# cây kim).

 

Cấy chỉ (nguồn Internet)

2. Nguồn gốc phuơng pháp Nhu Châm:

2.1. Nguồn gốc xa: Học viện Trung y hiện đại HôngKông thập niên 60 thế kỷ 20, đã giới thiệu phuơng pháp "chôn,vùi" sợi catgut vào huyệt châm cứu, họ gọi tên là Mai Tuyến Pháp (# theo từ hán-nôm, chữ "mai" có nghĩa là "chôn, vùi"; "tuyến" là sợi chỉ mỏnh manh, "pháp" là phuơng cách tiến hành...ở tỉnh Bình Duơng truớc năm 1975, hai thầy thuốc nguời Việt gốc Hoa học ở truờng này (ông Vuơng Sanh và ông Huỳnh Văn Tâm, nay cả hai vị đã qua đời) đã áp dụng "mai tuyến pháp" (lúc bấy giờ dân gian hay gọi là "cấy nhau" # implant placentaire, hoặc phuơng pháp chôn chỉ catgut...).

2.2. Nguồn gốc gần: Năm 1984, ban Tuyên giáo tỉnh Sông Bé (bao gồm 2 tỉnh Bình Phuớc và Bình Duơng bây giờ) thành lập tổ chức Câu lạc bộ Khoa học Châm Cứu (qui tụ các thầy thuốc đông, tây y ham mê nghiên cứu học thuật châm & cứu = acupuncture & moxibustion), và ông Vuơng Sanh làm chủ nhiệm ban điều hành (2 ông Huỳnh Văn Tâm và Lê Hưng làm phó chủ nhiệm), sau 1 năm / 1985, Câu lạc bộ Khoa học Châm Cứu Sông Bé cho ra đời cuốn sách mang tên Nhu Châm (# catguto-puncture) , do nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé ấn hành (10.150 cuốn, gía bán: 10 đồng/cuốn, theo thời điểm lúc bấy giờ, 1985), để giới thiệu rộng rãi cho hội viên đông đảo trong và ngoài tỉnh của Câu lạc bộ Khoa học Châm Cứu Sông Bé (gồm khá nhiều thầy thuốc các tỉnh lân cận với Sông Bé,cũng tham gia sinh hoạt chuyên môn hàng tuần....).

 

Nhu châm được cho là phương pháp châm cứu kết hợp giữa y học hiện đại và cổ truyền (nguồn Internet)

3. Dụng cụ Nhu Châm:

Lúc đầu tiên, các thầy thuốc nhu châm / hội viên Câu lạc bộ Khoa học Châm Cứu Sông Bé (thầy Nguyễn vân Trầm, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Vuơng Duy, Huỳnh Xuân Thọ, Lê Đức Sự....) sử dụng kim chọc dò tủy sống (l' aiguille de ponction lombaire) làm phuơng tiện đưa mẩu chỉ catgut (chỉ tự tan = fils resorbable) dài # 1cm vào vị trí huyệt châm cứu / theo bệnh lý cần điều trị (tất nhiên huyệt vị này đã đuợc phong bế thuốc tê cục bộ truớc đó vài phút, để giảm đau khi đưa mẩu catgut vào huyệt), sau này vài vị hội viên khác của Câu lạc bộ Khoa học Châm Cứu Sông Bé đã cải tiến cách Nhu Châm "không dùng thuốc gây tê", điển hình là BS Nguyễn văn Lây, Luơng y Nguyễn Văn Thi...bằng cách bỏ không dùng kim chọc dò tủy sống nữa, thay vào bằng kim tiêm bắp thịt (l'aiguille injectable) loại nhỏ mà dài (# 5- 6cm) làm ống / xylanh, để luồn sợi catgut, rồi dùng "kim hào châm" dài làm piston đẩy mẩu catgut vào huyệt vị cần châm.

4. Duơng truờng tuyến trong nhu châm:

Sợi chỉ catgut, bản chất là "chất tạo keo collagène" trong mô liên kết của ruột vài động vật nuôi từng bầy đàn (như dê, cừu...); nhiều dân du mục thời trung cổ còn dùng "sợi collagène" phơi khô làm dây đàn, đây đai thắt lưng....từ ngữ KATGUT chính là tên loại dây đàn "ruột động vật" của nguời du mục vùng trung đông châu Á cổ xưa....Trong y học phuơng đông, chỉ catgut có thuật danh hán - nôm Duơng Truờng Tuyến (# duơng = dê, cừu; truờng = ruột; tuyến = sợi chỉ), mà sách Nhu Châm (năm 1985) đã đề cập. Công nghệ y học hiện đại đã chế biến nhiều loại hình catgut (dùng cho ngoại khoa giải phẫu là chính): chỉ plaine, chỉ chromic...

5. Bàn thêm về chữ nghĩa danh pháp nhu châm:

Hiện nay, y tế nhiều tỉnh thành đã áp dụng "hình thái tân châm" (# morphotyphologie de néo- puncture): mai tuyến pháp = chôn chỉ catgut, cấy chỉ tự tiêu, nhu châm...để chữa các chứng bệnh mãn tính (maladie chronique) của nguời già, di chứng tai biến mạch máu não ( séquelle de l' accident vasculaire cérébral)...Nhưng cách gọi Danh Pháp "hình như" hơi lộn xộn:

- catgut-embedding

- catgut-implant

- catguto-puncture

Theo nguời viết tản văn này, có nhận xét / khách quan tư biện, như sau:

- Danh từ "embedding" gốc là động từ EMBED = gắn chặt vào, truớc sau vẫn thế !..Mẩu catgut thì theo thời gian tan dần, làm sao mà "truớc sau vẫn thế" đuợc nhỉ ? Một cuốn sách y học mới xuất bản gần đây dùng danh pháp "catgut- embedding", e rằng chưa nói hết ý nghĩa nội hàm của mai tuyến pháp / tên gọi của y học cổ truyền phuơng đông ?

- Danh từ "implant" có nghĩa" vật thể gắn chặt vào cơ thể" (# some thing that is put into a part of the bodybuilding after a medical operation), mà mẩu duơng truờng tuyến(= fil resorbable = chỉ tự tiêu) đâu có gắn chặt gì ở huyệt châm cứu đâu ? nó chỉ "tạm trú ngắn hạn vài ngày thôi" rồi tan biến vào linh khu ( # bodybuilding = cơ thể nguời kỳ diệu)....Tôi nghĩ thuật danh "catgut-implant"  của một số tác giả khác ở Hà Nội) cũng chưa thể hiện đúng nội hàm của mai tuyến pháp!.

- Danh từ "puncture" do gốc động từ latinh "punctura" (# chọc cho thủng, đâm cho thủng), nên danh từ có nghĩa là "cái gai nhọn, cây kim", vì thế mà nhóm thầy thuốc tỉnh Bình Duơng 32 năm truớc (1985 - 2017) đã chọn danh pháp CATGUTO - PUNCTURE (# Nhu Châm, như đã dẫn giải ở phần đầu) cho liệu pháp châm mới, có tác dụng kép:

- Cuờng điệu kích hoạt (# kích thích huyệt theo tả pháp).

- Truờng điệu kích hoạt (# kéo dài thời gian liên tục kích thích sinh học huyệt châm).

 
Lê Hưng VKD/ 2017
 
 

các bài viết liên quan


  Nhu Châm là gì ?   -  

địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 428.062

Đang online: 53