đồng hành

Thuốc Tây - Thuốc Ta


Xứ nhiệt đới, bịnh tật dẫy đầy, người mạnh khỏe khi thay đổi thời tiết cũng dễ bị cảm mạo, hoặc nhức mỏi mỗi năm đôi ba lần. Ông cha ta ngày xưa đã khuyên “đói ăn rau, đau uống thuốc”. Vài cụ đồ nho lỡ vận có thể bám lấy nghề hốt thuốc mà sống, có người nổi danh, gây được cảm tình trong chòm xóm, Cụ Đồ Chiểu, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy đã nổi danh về nghề thuốc. Hốt thuốc là nghiệp dư của nhà nho, nho, y, lý, số, đá có công thức trong sách cổ điển, tùy ình hình mà ứng dụng. Thời khẩn hoảng cách đây đôi ba thế kỷ, đồng bào ta đi từng nhóm, luôn luôn có một võ sĩ, một thầy thuốc, tuy trình độ kém, nhờ đó mà trong hoàn cảnh khó khăn, ta lập được làng xã, lần hồi phì nhiêu, đông đúc. Theo cơ chế thời vua chúa, y tế là ngành mà Nhà nước thả nổi cho người dân tự ý điều hành, cũng như ngành giáo dục. Không có y sĩ chánh thức của Nhà nước bổ nhậm tại địa phương. Và khi nhà vua đau nặng, các quan ngự y chịu bó tay thì hoàng tộc thường gọi một người có khoa bảng ( tiến sĩ, trạng nguyên) đến, kê một toa thuốc để họa chăng được may mắn, sống them mười ngày.

Trong ngôn ngữ dân gian, lắm khi tiếng thầy có nghĩa là thầy thuốc (đi rước thầy, thầy chạy…). Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của in từ năm 1896 đã phân biệt:
 
- Thuốc Bắc: thuốc Trung Quôc chở qua, quen hiểu cây cỏ, vị thuốc ở về phía bắc, đất nước cao ráo, khí vị hậu hơn, mạnh hơn thuốc bên Nam.
 
- Thuốc Nam: Thuốc dùng cây cỏ bên Nam hay là bên nước An Nam mà làm ra, đối với thuốc Bắc là thuốc bên Trung Quốc.
 
Từ xưa và mãi đến nay , đồng bào ta rất trân trọng những loại thuốc gia truyền. Ông bà giữ bí mật dành riêng cho con cháu đen ứng dụng, lắm khi rất công hiệu, nhưng thường không có đủ lý luận để giải thích.

Nói chung, trước Cách mạng tháng Tám, giới bình dân và giới trung lưu thích dung thuốc Bắc và thuốc Nam , đặc biệt là loại “ cao đơn hoàn tán” mà các hiệu thuốc ở Chợ Lớn đã nhờ đó mà làm giàu nhanh. Nhiều đông y sĩ túc trực tại các tiệm thuốc Bắc, bắt mạch xong, ra toa hốt thuốc tại chỗ, đem về sắc lại kiểu…. ba chén còn lại bảy phân! Thuốc Tây y ( gọi thuốc Tây) trước 1945, bán giá cao, mỗi tỉnh lẻ chỉ có một hiệu, cửa hàng bày biện sang trọng, người nghèo, người ít chữ nghĩa rất ngại khi bước vào, vì tên thuốc là tiếng Pháp. Lứa y khoa bác sĩ đầu tiên ở Nam bộ thường là con điền chủ giàu có, qua Pháp du học, trở về khoảng năm 1926, họ làm giàu nhanh chóng. Thỉnh thoảng, ở tỉnh nào đó có một ông bác sĩ “ nhơn đức” , nhưng nói chung giới nầy có phong cách hách dịch như vị quan to, trị bịnh với giá cao. Về Tây y, người trung lưu thời trước 1945 không có khái niệm rõ rệt. Vào khoảng 1932, đồn đãi về sự thần hiệu của X quang, gọi nôm na là “ rọi kiếng” rọi vào là vi trùng và bịnh tật tiêu tan hết!- Cũng như vào khoản 1947 nhiều người ngỡ rằng thuốc trụ sinh Pê-ni-xi-lin có thể trị tất cả các bịnh.

Với đà phát triển Âu dược, thêm sự đào tạo nhiều y sĩ trẻ theo Tây học, năm 1950 về sau, từ Sài Gòn đến các tỉnh lẻ đã mở nhiều phòng mạch, nhiều hiệu thuốc Tây. Thuốc Tây, bên trời Âu được sản xuất đại trà, bán ào ạt qua xứ kém mở mang. Người lao động có thể mua thuốc Tây, với giá vừa phải. Họ so sánh về vài mặt nào đó, thuốc Tây lại rẻ, trị bịnh công hiệu hơn. Một thời gian dài, các hiệu thuốc “cao đơn hoàn tán” các thầy thuốc Bắc sống trong cảnh điêu đứng. Thuốc Bắc nhập cảng, giá cao, đem về sắc lại tổn hao thời giờ, lửa củi. Sau đệ nhị thế chiến, tạm thời có sự lấn chiếm của thuốc Tây, tuy nhiên giới lớn tuổi vẫn giữ thói quen xài “ cao hơn hoàn tán”; nhiều chùa am mở phòng hốt thuốc Nam, miễn phí, gây cảm tình với đồng bào lao động.

Cần có một thời gian dài, thậm chí một thế hệ, để người Việt cân nhắc những thế mạnh và thế yếu của thuốc ta và thuốc tây. Sau ngày giải phóng, trong lúc sinh kế khó khăn, ta đã chứng kiến sự phục hồi của y học dân tộc, nhưng không bài ngoại lắm khi được số ít người quảng cáo quả mức gây phản tác dụng ( cây sống đời, xuyên tâm liên trị bá bịnh). Thành tựu lớn nhất vẫn là ngành châm cứu, gây tác dụng tốt, trong nhiều trường hợp và chính giới Tây y cũng tích cực nghiên cứu Đông y.

Thuốc tây, thầy tây và thuốc ta, thầy ta có mâu thuẫn nhau không? Theo ý tôi, lần hồi sẽ có sự bổ sung. Đồng bào phân biệt rõ: Cái gì dính líu tới vi trùng, cấp cứu thì thuốc tây hay hơn, cái gì thuộc về bịnh lâu dài thì đừng nôn nóng, dùng thuốc ta vẫn là có công hiệu bền lâu. Người già nên dung thuốc ta. Ai cũng biết, đã có nhiều loại thuốc tây được quảng cáo rầm rộ quá mức, để rồi có khi lại bị phủ nhận, lên án. Trong cuộc cạnh tranh về thuốc, luật đào thải rất khắc nghiệt. Rẻ tiền, có công hiệu, không mất thời giờ, hợp với tập quán của dân tộc chắn chắn là được ưa chuộng.

  SƠN NAM ( Tp. Hồ Chí Minh)

các bài viết liên quan


địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 1.318.896

Đang online: 30