đồng hành

Tìm hiểu những chất chỉ điểm sinh học của ung thư - Phần 1

 
I. AFP (Alpha – Fetoprotein)
 
1. Bản chất
 
- AFP là 1 glycoprotein có một chuổi đơn, trọng lượng phân tử 70.000 dalton và carbohydrat chỉ chíếm 2,5%.
 
- Thời gian bán huỷ: 5 ngày.
 
2. Xuất xứ
 
- AFP được tổng hợp chính ở gan phôi thai và túi noãn hoàng, rồi vào dịch ối, đi qua rau thai và vào máu mẹ. AFP cao nhất vào tuần thai thứ 13 sau đó giảm dần trong máu mẹ.
 
- AFP chỉ thấy vết ở người trưởng thành khỏe mạnh.
 
3. Chức năng: Tính chất lý hoá và trình tự Aminoacid thì tương tự Albumin. Như vậy chức năng chuyên chở đang được bàn luận cho những phân tử khác như: Oestrogen, Acid béo. Tuy nhiên, một hiệu quả ức chế miễn dịch cũng được tìm thấy trong thời kỳ thai nghén.
 
4. Giới hạn bình thường: Đàn ông và phụ nữ không có thai: < 8,5 ng/ml (Heise 1990).
 
5. Ý nghĩa lâm sàng
 
* Các trường hợp gia tăng nồng độ AFP
 
- Ung thư gan tiên phát nồng độ AFP tăng hơn 400 ng/ml ( hoặc >500 ng/ml) hay > 1.000 ng/ml, đôi khi 10.000 ng/ml hay 1.000.000 ng/ml trong huyết thanh.
 
- Ung thư gan thứ phát hay di căn của một ung thư khác vào gan nồng độ AFP tăng vượt quá 400 ng/ml (hoặc 500 ng/ml) trong huyết thanh.

- Bệnh lý gan lành tính như xơ gan, viêm mãn, viêm gan cấp do virus, dị dạng của bào thai nồng độ AFP tăng thường < 200 ng/ml (hoặc < 300 ng/ml). Nhưng tăng AFP trong bệnh lý lành tính ở gan mang tính tạm thời, nó trở về bình thường khi bệnh nhân thuyên giảm.
 
- Ngoài ra AFP còn tăng trong các trường hợp sau:
 
+ Tổn thương lan toả ở gan và các khối u tế bào khổng lồ.
 
+ Ung thư khác kèm di căn ở gan như dạ dày, tụy, đường mật, đường ruột nhưng không cao.
 
+ U tế bào mầm (Cơ quan sinh dục nam và nữ).
 
+ Ung thư ở phôi (Tăng hay không tăng tuỳ thuộc vào số lượng chứa nội bì).
 
+ U túi Yolk.
 
+ Bệnh Crohn, bệnh đa polip nhưng hiếm khi tăng cao > 500 ng/ml.
 
- Nồng độ AFP gia tăng theo sự phát triển của khối u.
 
* Ý nghĩa
 
- Đối với ung thư gan
 
+ Chẩn đoán sàng lọc: nhóm nguy cơ ung thư gan như những người xơ gan, người mang HBsAg có viêm gan mãn, nghiện rượu để phát hiện sớm ung thư gan.
 
+ Chẩn đoán phân biệt:
 
Bệnh gan ác tính với bệnh gan lành tính.
 
Bệnh gan ác tính với di căn gan. Ví dụ như dùng phối hợp AFP và CEA, khi AFP thấp, CEA cao di căn gan (Dự đoán dương tính hơn 90%).
 
+ Tiên lượng:
 
Trong chẩn đoán: nồng độ AFP càng cao khối u càng lớn, tiên lượng bệnh càng xấu.
 
Trong điều trị: nồng độ AFP không giảm hoặc tăng thêm dự hậu xấu và ngược lại.
 
Sau điều trị: nồng độ AFP tăng lên bệnh tiến triển không tốt và ngược lại.
 
+ Theo dõi, đánh giá kết quả điều trị: Trong ung thư gan AFP có giá trị nhất để chẩn đoán và thao dõi điều trị.
 
- Đối với U tế bào mầm phối hợp với xét nghiệm hCG
 
+ Chẩn đoán ở những bệnh nhân nghi ngờ u tinh hoàn, u buồng trứng, u các tuyến sinh dục phụ.
 
+ Chẩn đoán theo dõi những người có nguy cơ cao u tế bào mầm , đó là những người vô sinh, người sinh đôi với bệnh nhân u tinh hoàn hay người đã cắt bỏ tinh hoàn.
 
+ Cho phép một thay đổi sớm một phương thức điều trị khi sự gia tăng nồng độ AFP và hCG sau mổ (Nói lên tiến triển cảu bệnh trong nhiều tháng trước) trước khi dùng các biện pháp chẩn đoán khác.
 
- Ngoài bệnh lý ung thư còn xét nghiệm AFP trong máu mẹ để theo dõi thai, chẩn đoán trước một số bệnh như Down, khuyết tật ống thần kinh.
 
II. CEA (cracinoembryonic Antigen)
 
1. Bản chất
 
- CEA là 1 glycoprotein, trọng lượng phân 180.000 dalton, bao gồm 40% protein và 60% carbonhydrat.
- Thời gian bán hủy: chưa biết.
 
2. Xuất xứ
 
- CEA là một trong những kháng nguyên phôi thai được sản sinh trong suốt thời kỳ phôi thai và phát triển của thai, ngừng sản xuất sau khi sinh.
 
- Ở người trưởng thành khỏe mạnh có rất ít CEA nhóm 14-16 gene mã hoá cho loại CEA: NCA và chất đặc hiệu cho sự có thai là BGP. Những gen này được gọi là “ CEA gene family”.
 
- Về mô miễn dịch học CEA có thể thấy có nồng độ cao trong đường tiêu hoá (dạ dày, ruột), phôi thai và tụy.
 
- CEA có nồng độ thấp trong mô ruột bình thường , niêm mạc ruột, tuyến tụy ngoại tiết và gan.
 
3. Chức năng
 
Chức năng CEA còn chưa biết nhiều. Người ta cho rằng CEA  gắn vào màng tế bào để cung cấp cơ chế nhận dạng gian bào thông qua chức năng thụ thể. Một hiệu quả ức chế miễn dịch bởi sự cảm ứng của đại thực bào ức chế và lyphocyte.
 
4. Giới hạn bình thường
 
- Người không hút thốc lá khỏe mạnh: 3 – 5 ng/ml.
 
- Người hút thuốc lá : 3 – 10 ng/ml (đôi khi đến 20 ng/ml).
 
- Trị số cắt : 5 ng/ml
 
5. Ý nghĩa lâm sàng:
 
* Các trường hợp gia tăng nồng độ CEA
 
- Về mức độ tăng nhiều ý kiến cho rằng:
 
+ Hơn 40 ng/ml trong máu : chắc chắn có ung thư
 
+ Hơn hay bằng 50 ng/ml : ung thư cục bộ.
 
+ Hơn hay bằng 100 ng/ml: đã có di căn ( Ung thư nội tạng hay vào hạch lympho).
 
- Nồng độ CEA tăng trong các trường hợp:
 
+ Ung thư đại tràng ác tính cũng như lành tính.
 
+ Khi cơ quan bị khối u xâm lấn (sự lan toả của u).
 
+ Sự hoại tử và phá huỷ của mô.
 
+ Do sự kiềm hãm ở các tế bào u làm tăng sản xuất CEA.
 
+ Trong một số bệnh ung thư thứ phát hay nguyên phát: dạ dày, tụy, vú, phổi, buồng trứng, cổ tử cung, đại - trực tràng,bàng quang, tiền liệt tuyến.
 
+ Biến chứng viêm nhiễm hậu phẩu như viêm phổi, vết thương nung mũ, viêm phúc mạc,…trong phẩu thuật ung thư dạ dày.
 
+ Bệnh lý gan lành tính: xơ gan, vàng da tắt mật, viêm túi mật, viêm ống mật,….., nhất là tổn thương do di căn gan.
 
+ Tắc ruột do u, viêm ruột.
 
+ Nhiễm trùng niệu và ung thư bàng quang thì CEA nước tiểu tăng.
 
+ Người nghiện thuốc lá (# 10 ng/ml).
 
* Ý nghĩa: CEA không đặu hiệu cho loại ung thư cơ quan nào nhưng nồng độ CEA trong huyết thanh tương quan với khối u, giai đoạn của bệnh, sự biệt hoá tế bào nên do đó CEA có giá trị trong các trường hợp sau:
 
** Trong ung thư đại tràng và trực tràng (CEA sử dụng đơn độc).
 
- Chẩn đoán:
 
+ Giai đoạn bệnh: tại chổ hay di căn.
 
+ Tiên lượng: nồng độ CEA tăng càng cao bệnh càng xấu.
 
+ Theo dõi diển biến điều trị, đánh giá hiệu quả điều trị:
 
Nồng độ CEA giảm về bình thường sau 6 – 8 tuần: phẩu thuật thành công.
 
Nồng độ CEA tăng trở lại: bệnh tiến triển, tái phát hay di căn.
 
Nồng độ CEA tăng gần từ 2 – 4 ng.ml/ 6 tháng: tái phát tại chổ.
 
Nồng độ CEA tăng nhanh: di căn, đời sống ngắn.
 
Nồng độ CEA không giảm hoặc tăng: điều trị không hiệu quả.
 
+ Góp phần chỉ định phẩu thuật: 40 ng/ml thì phuẩu thuật lần 2, > 40 ng/ml không phẩu thuật .
 
** Trong các ung thư khác như dạ dày, tụy, vú, phổi, buồng trứng, cổ tử cung, bàng quang, tiền liệt tuyến,… thì sử dụng phối hợp CEA với xét nghiệm khác dùng để: xác định giai đoạn bệnh, chọn phương pháp thích hợp điều trị, điều chỉnh điều trị, chẩn đoán tái phát hay di căn, tiên lượng bệnh, đánh giá diễn tiến hiệu quả điều trị, chỉ định phẫu thuật (nếu > 50 ng/ml không phẩu thuật dạ dày).
 
** Định lượng CEA trong dịch não tuỷ chẩn đoán 100% u màng não.

 
 
 

các bài viết liên quan


địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 1.318.882

Đang online: 28