đồng hành

Tìm hiểu những chất chỉ điểm sinh học của ung thư - phần 7


* Leucemie

Yếu tố nguy cơ: Chưa rõ.

Chỉ thị ung thư có giá trị:  b2 – M ( b2 microglobulin).

Xét nghiệm b2 – M ( b2 microglobulin).

a) Tiêu chuẩn lựa chọn xét nghiệm chỉ thị ung thư

 

Nguyên bào lympho ác tính


b) Ung thư phát triển và khả năng chẩn đoán sớm
 


c) Các yếu tố ảnh hưởng đến xét nghiệm
 


* Bản thân khối u

- Số lượng tế bào sản xuất chất chỉ thị phụ thuộc vào kích thước khối u, sự lan toả khối u, thời kỳ của khối u.

- Tốc độ tổng hợp chất chỉ thị của khối u.

- Tỉ lệ phóng thích chất chỉ thị từ tế bào u hoặc từ tế bào bề mặt.

- Sự bộc lộ dấu ấn: có bộc lộ hay hiện lên thì tăng và ngược lại.

- Loại bướu không bài xuất: tế bào bướu tiết ra chất chỉ thị mà không phóng thích vào trong dịch cơ thể.

- Lượng máu nuôi của bướu: nếu ở khối u ít máu nuôi đến thì nồng độ chất chỉ thị cũng thấp ở hệ tuần hoàn.

- Mức độ hoại tử của bướu: phần lớn tế bào bị phá huỷ ra gây tăng chất chỉ thị làm cho mất cân bằng tỉ lệ với kích thước của bướu (trong xạ trị và hoá trị).

* Bệnh nhân

- Tuổi tác: các xét nghiệm CA 19-9, CEA, CA 72-4, CA 15-3, AFP, PSA ở người khỏe mạnh từ 60 – 90 tuổi có trị số tăng 40%.

- Rượu, thuốc lá: như CEA nồng độ ở người bình thường  0,78 – 4,26 ng/ml, ở người hút thuốc lá có thể tăng tới 10 ng/ml mà không ung thư.

- Bệnh lý suy gan, suy thận, ứ mật: như CA 19-9 nồng độ người bình thường là 22 U/ml ứ mật nhẹ có thể tăng tới 30.000 U/ml.

* Thuốc men,  thủ thuật

- Một số thuốc dùng cho bệnh nhân làm tăng hoặc giảm giả tạo kết quả định lượng chỉ thị : như dùng Vitamin C, guanidin, mitomycin, oestradiol làm tăng giả PSA. Vitamin H ảnh hưởng tới CEA, …

- Thủ thuật: khám trực tràng bằng tay, soi bàng quang, sinh thiết tuyến tiền liệt, thông niệu đạo gây tăng kéo dài PSA trong máu và PAP.

* Bệnh phẩm

- Lấy máu để lâu hơn 60 phút làm tăng NSE (do NSE phóng thích ra từ tiểu cầu).

- Mẫu tiêu huyết làm tăng NSE (do NSE phóng thích từ hồng cầu).

- Mẫu thử máu có lẫn nước bọt lẫn vào trong huyết thanh làm tăng CA 19-9, Cyfra 21-1, SCCA, CEA, TPA.

- Mẫu thử nước bọt hư làm tăng SCC, Ca 19-9, giảm CEA.

* Kỷ thuật xét nghiệm

- Đa số kỷ thuật định lượng chỉ thị ung thư đều dựa vào phương pháp miễm dịch, kỷ thuật ngày càng nâng cao tính chính xác đã giải quyết một số vấn đề như ảnh hưởng của kháng nguyên nồng độ cao. Tuy nhiên ở một số người bệnh hay đang được điều trị có kháng thể Human Antimouse antibodies (HAMAS, kháng thể kháng chuột ở người) hiện diện trong huyết thanh làm sai lệch kết quả xét nghiệm, khi kỷ thuật sử dụng nguyên tắc bánh kẹp với 2 kháng thể đơn clôn của chuột thì HAMAS hoạt động như cầu nối giữa 2 kháng thể này làm phản ứng vẫn xảy ra dù không có kháng nguyên trong máu gây dương tính giả.

- Do sử dụng những bộ kít xét nghiệm miễn dịch khác nhau cho việc xác định cùng một thông số có thể làm thuyên giảm giả tạo tiến trình của khối u. Việc ở trên đây là rất quan trọng cho sự giữ thông tin đúng cho kiểm tra và điều trị mà đã được sử dụng trước đó như là một sự tham khảo cho giá trị định lượng trở lại, sự xác định song song cần được sử dụng cho xét nghiệm mới.

- Máy móc xét nghiệm.

- Thao tác xét nghiệm.

- Vấn đề bảo đảm chất lượng.

* Thời gian xét nghiệm:

- Trước điều trị để mỗi người có chỉ thị ung thư riêng.

- Xét nghiệm theo dõi diễn biến phụ thuộc vào cá nhân, loại ung thư.

- Sau mổ thời gian xét nghiệm lại lần đầu tiên phụ thuộc vào thời gian bán huỷ của chỉ thị ung thư, thường là 2 – 14 ngày sau mổ.

- Trong năm thứ nhất và thứ hai của quá trình điều trị thường thử lại trong tháng đầu và hàng tháng, tới khi chỉ thị giảm rõ rệt thì 3 tháng thử lại 1 lần. Từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 mỗi năm thử một lần. Nếu chỉ thị đột ngột tăng, cần thử thường xuyên hơn hay thấy tiên lượng xấu hoặc nghi di căn cũng cần thử thường xuyên trong quá trình theo dõi.

- Trong quá trình điều trị, cần có thời biểu xét nghiệm chỉ thị ung thư. Thời biểu này xác định tuỳ theo cá nhân, tuỳ loại bệnh, diễn tiến của bệnh cũng như liệu pháp sử dụng.

d) Ý nghĩa của chỉ thị ung thư trong lâm sàng

* Sàng lọc: Phát hiện sớm bước ác tính ở những nhóm người có nguy cơ cao.

- AFP: sàng lọc ung thư gan ở những người mang kháng nguyên HBsAg hoặc xơ gan.

- Calcitonin: sàng lọc tế bào K tuyến giáp ở những người có tiền sử gia đình bị bệnh này.

- PSA: Sàng lọc ở nam giới lớn hơn 50 tuổi với u tuyến tiền liệt.

* Chẩn đoán:

- Chần đoán ban đầu:

Thường là không thể chẩn đoán được do độ đặc hiệu và độ nhậy không đủ.

Vài loại bướu thì kích thước bướu có liên quan rất nhiều với chỉ số kết quả của chỉ thị ung thư  ở giai đoạn tiền phẩu như:

+ CEA  và K đại tràng.

+ CA 125 và K buồng trứng.

+ Cyfra 21-1  và K phổi.

Trước khi phẩu thuật hay điều trị xác định chỉ thị ung thư cho phép dự đoán tiên lượng bệnh, cho theo dõi bệnh lý về sau này theo từng loại bướu thích hợp.

+ AFP và hCG  trong ung thư tế bào mầm.

+ CEA và CA 19-9 trong ung thư đại tràng.

+ Ca 15-3 và CEA trong ung thư vú.

+ Cyfra 21-1 trong ung thư phổi.

+ CA 125 trong ung thư buồng trứng.

+ b2 – microglobulin trong đa u tuỷ.

Riêng chỉ thị ung thư được xem như một phương tiện chẩn đoán ban đầu như: hCG, AFP và calcitonin.

- Chẩn đoán sớm:

Duy nhất chỉ có PSA và PSA tự do được coi là chẩn đoán sớm ung thư tiền liệt tuyến (trước chẩn đoán hình ảnh).

- Chẩn đoán phân biệt:

Phân biệt bệnh lành tính và bệnh ác tính:

+ PSA và PAP : trong ung thư với viêm, phì đại tuyến tiền liệt.

+ AFP trong ung thu với xơ, viêm.. của gan……..

- Tiên lượng bệnh:

Khi nồng độ chỉ thị cao hoặc tăng sau phẩu thuật hay điều trị đến giai đoạn tạm ngưng điều trị là có chiều hướng tiên lượng bệnh xấu . Nếu ở mức bình thường hay tăng nhẹ thì hầu như kéo dài thời gian ngưng điều trị và kéo dài thời gian sống.

Các chỉ thị có giá trị tiên lượng như: CEA, CA 125, AFP, v.v….

- Theo dõi đánh giá kết quả điều trị:

Để xác định thành công của phẩu thuật, xạ trị hay điều trị thuốc trong khi điều trị hoặc sau khi điều trị nếu nồng độ chất chỉ thị:

+ Không giảm hoặc tăng nhẹ nói lên cho biết cắt không hết bướu hay bướu không đáp ứng điều trị.

+ Không trở về bình thường nói lên là việc điều trị không hiệu quả.

+ Hay không tiến triển tốt dù rằng hình trên siêu âm hay trên X-quang không còn bướu nữa.

+ Giảm hoặc trở về giá trị bình thường nói lên việc khối u đã được lấy ra hoàn toàn hay diễn tiến thuyên giảm.

+ Tăng kéo dài ở mức bệnh lý đi sau sự giảm mạnh hoặc sự tăng trở lại mới sau khi giảm nói lên ung thư tái phát hoặc di căn.

+ Tăng trở lại sau một giai đoạn  trở về bình thường nói lên tái phát sau phẩu thuật.

 

các bài viết liên quan


địa bàn triển khai ứng dụng laser quang châm

Tổng lượt truy cập: 1.340.955

Đang online: 50